Cù lao chín tấc
Tiếng dội của đất
Bây giờ nó đã là con kinh xáng nước chảy cuồn cuộn, xói lở cả hai bờ. Đêm đêm, khi những chiếc vỏ com-pô-xít gắn máy, những chiếc ca-nô cao tốc ào ào lướt qua, tiếng động cơ mất hút nơi xa, thì ở đây, tiếng sóng vẫn dội ọc ạch vào những hỏm hốc của hai bờ mãi lâu. Và, đất vẫn âm thầm rơi lở, âm thầm trôi theo nước.
|
Ao nước duy nhứt mà cậu Ba tôi cố giữ ngọt như là giữ một kỷ vật của nỗi hoài niệm. Ảnh: Nguyễn Trọng Tín
|
Ngày trước, trên kinh vô số cầu khỉ bắc ngang. Bờ kinh, cứ có hai nhà đối diện là có chiếc cầu khỉ bắc qua. Mà ở đây, chẳng biết do bàn tay sắp xếp nào, hễ̉ bên này kinh có một nếp nhà, thì bên kia kinh cũng là một nếp nhà khác.
Đôi khi, cầu khỉ chỉ là một thân trâm bầu ngã đè ngang kinh, còn xanh cành lá. Bờ kinh xa mút một rặng trâm bầu, nên nó mới có cái tên là kinh Trâm Bầu. Bây giờ chẳng còn nghe ai gọi cái tên ấy nữa.
Từ khi con kinh được xáng múc rộng ra để dẫn nước biển vào quanh năm, người ta gọi nơi đây là Kinh Xáng Mới. Kinh Xáng Mới ngày nay không còn một bóng cầu khỉ nào nối nổi hai bờ. Chiếc cầu xi măng duy nhứt trên con kinh dài năm cây số này, bắc ngang trước ngôi trường cũng duy nhất ở đây, mới chưa đầy ba năm mà một đầu cầu đã đổ chúi xuống dòng nước. Cái tiếng dội của nước vào đất lâu nay cũng đã trở nên quen lờn rồi, chẳng mấy ai còn để ý. Nhưng chí ít tôi cũng còn biết một người không quen được. Đêm đêm ông cũng lắng nghe và ngày ngày cũng thế.
Ông là cậu tôi, tôi gọi ông là cậu Ba, một ông già bảy mươi bốn tuổi, nhưng dấu vết về một con người cường tráng chưa mất được nơi ông: ông vẫn còn cầm nổi dá để đào đất, cầm phảng phát cỏ và nếu có một cuộc vui đáng vui, ông còn đủ sức một mình uống hết một lít rượu , vẫn vững bước về nhà. Ông sinh ra tại con kinh này, lớn lên và sống ở đây cho đến ngày hôm nay.
Ngày xưa, kinh Trâm Bầu là con lung trời sanh có tên là Lung Cấm. Hồi còn nhỏ, tôi nghe những người già kể rằng, con lung này thật ra không phải tự nhiên mà có. Nó là lối của voi đàn đi ăn, mùa mưa nước theo dấu voi đi, chảy ra sông, lâu ngày thành lung.
Lại có câu chuyện khác cũng của những người già, rằng nó do những cư dân đầu tiên đến đây làm nghề bắt sấu khai thông mà thành. Ngày đó, phía đầu trong Lung Cấm có một đầm lầy rộng lớn, là nơi sinh sống của vô vàn cá sấu. Ngày đó, đất còn chưa trồng được cây lúa. Những người di dân khẩn hoang đầu tiên ấy sống bằng nghề bắt sấu đổi gạo.
Họ dừng chân bên bờ sông Giáp Nước nhưng phải vào bắt sấu tận trong đầm lầy. Để đem được sấu ra bờ sông bán cho các ghe thương hồ của Hoa kiều, dân săn sấu phải khơi thông từ đầm lầy ra một đường nước để dẫn sấu. Cái cách dẫn sấu người già mô tả nghe ngoạn mục: sau khi bắt sống được cá sấu, người ta trói quặt hai chân sau của sấu qua lưng bằng cách cắt đầu móng chân rồi rút gân, cột lại.
Sau đó, dùng mây rừng xỏ ngang mũi sấu, dắt cho chúng lội bè theo đường nước. Sấu chỉ còn biết ngoan ngoãn bơi lủm tủm bằng hai chân trước mà theo người dắt. Cái đường nước dẫn sấu ấy, cứ thế mà rộng dần thành con Lung Cấm. Chẳng rõ đâu là chuyện thật.
Ngày tôi lớn lên, ở đây không còn dấu vết nào về loài voi to lớn, chỉ còn mỗi cái địa danh Lung Tượng, nằm vắt ngang ngọn kinh Trâm Bầu, con lung đã thênh thang hai cánh đồng hai bên. Nhưng nằm kề Lung Tượng lại là một xóm có tên Bàu Sấu. Cách nay chưa lâu, những người dân trong vùng thỉnh thoảng khi đào đìa, vẫn còn gặp dưới đất sâu những bộ xương sọ cá sấu đủ cả hai hàm, chơm chởm toàn răng. Trên cột nhà cậu Ba tôi vẫn còn treo hai bộ hàm cá sấu như vậy.
Vẫn còn lưu truyền trong dân gian câu chuyện về nguồn gốc của cái tên Lung Cấm. Câu chuyện lại không dính dáng gì với voi và cá sấu vừa kể, nhưng có liên quan đến một loài mãnh thú khác, là cọp.
Một con cọp cái ba chân hung ác và tinh khôn, dân trong vùng vẫn kiên dè gọi là ông ba móng. Con cọp nầy một lần bị mắc bẫy, để giải thoát, nó đã tự cắn đứt một chân để lại trong thòng lọng bẫy. Từ đó, nó căm thù và trở nên hung ác với con người. Cọp ba móng hùng cứ trên một gò đất cao nằm bên con lung, có tên là gò Chà Là.
Một ngày kia, có chiếc ghe thương hồ của đôi vợ chồng trẻ dừng lại nghỉ qua đêm nơi đầu lung. Trời chiều chập choạng, người vợ ra lái ghe vo gạo nấu cơm, bất ngờ bị cọp ba móng tấn công rồi cắp xác mang đi. Anh chồng lần theo dấu máu, mong giành lại xác vợ. Cọp là loài thú rất sợ lửa. Anh chồng với cây đuốc lớn trên tay, vững tin là sẽ được an toàn. Nhưng khi anh vừa tới gò Chà Là, chưa kịp nhìn thấy xác vợ, liền bị cọp ba móng vồ lấy.
Không có ai dám tìm thi thể của đôi vợ chồng kia, vì cuộc tìm kiếm chẳng khác nào đi vào bụng cọp. Những người khẩn hoang treo lên chiếc ghe vô chủ lá cờ đen lớn, như một lời cảnh báo, một cái bảng cấm để những ghe thương hồ đến sau đừng đậu lại. Từ đó, địa danh Lung Cấm ra đời.
Năm 1959, có ba cán bộ cách mạng bí mật về hoạt động vùng này, họ ẩn mình trên gò Chà Là, là nơi ít ai dám vô tới. Nhưng rồi cũng bị người của phía bên kia phát hiện, bao vây và bắn chết cả ba. Cái luật số Mười của Ngô Đình Diệm đã không cho những thân nhân của những nạn nhân kia nhận xác người thân, họ bị chôn dập tại gò Chà Là.
Ngày nhỏ, chúng tôi đến trường không dám đi ngang qua gò, phải trổ con đường vòng ra sau bờ ruộng mà đi. Lâu ngày gò mọc um tùm cây hoang, dần dà gò Chà Là mất tên, cả vùng đều gọi đây là gò Ba Người.
Ruộng vườn dọc hai bên Lung Cấm đều do tiền nhân những người đang cư ngụ ngày nay khai phá. Nhưng có một thời kỳ rất dài họ phải nai lưng ra làm tá điền cho điền chủ Xã Phuông ngay trên mảnh đất của mình, chỉ trừ duy nhất một người là ông cậu tôi, người trưởng tộc của họ ngoại tôi ngày ấy, tức ba của cậu Ba tôi ngày nay.
Khi rừng rậm, đầm lầy đã thành vườn, thành ruộng thì những người khẩn hoang mới hay ra là đất đai của mình đã nằm trọn trong địa bộ khai khẩn của điền chủ Xã Phuông. Một số người cúi đầu cam chịu, số khác đùm túm vợ con tiếp tục đi sâu về hướng mũi Cà Mau. Chỉ duy nhất ông cậu tôi là không chịu khuất phục.
Khi máu sắp đổ, dao, phảng, gậy gộc của một dòng họ đã cận kề với súng đạn của cò lính thì bất ngờ ông cậu tôi nhận được từ điền chủ Xã Phuông một lời “hòa hiếu”. Nội dung lời “hòa hiếu” nói rằng, nếu ông cậu tôi và dòng họ của ông muốn giữ được ruộng để cày riêng, thì phải chịu cho em gái út của mình, tức bà dì Năm, em kế bà ngoại tôi, lúc đó mới mười sáu tuổi, nhưng sắc đẹp đã nức tiếng một vùng, làm vợ bé Xã Phuông.
Bà dì Năm tôi đội khăn tang, lạy lục từng người trong họ tộc xin được hiến thân để cứu cả dòng họ thoát khỏi một thảm họa. Không cưỡng được sức ép của dòng họ, ông cậu tôi sau một cơn cuồng dại, con cháu phải trói chặt ông vào chân cột, từ đó đến suốt đời, ông trở thành người câm, chỉ mấp máy môi ú ớ. Dù thế, trí óc ông vẫn còn minh mẫn. Ông chứng tỏ sự minh mẫn ấy bằng hành động đáng sợ: treo lên xà nhà một cây dao to lớn làm một lời nguyền.
Thuở ấy, chẳng biết những người khẩn hoang đã mang từ vùng đất nào đến và trồng được nơi đây một giống lúa thơm ngon nhứt hạng, tên là lúa Nàng Chô. Một mùa lúa Nàng Chô có thời gian sinh trưởng kéo dài đến tám tháng. Tháng năm trời mưa sòng, mạ được gieo, nhưng mãi đến ra giêng năm sau mới tới ngày gặt hái.
Qui trình canh tác lúa Nàng Chô cũng khác thường: mạ được cấy lần đầu trên đất đã dọn sạch cỏ, ở khoảng cách rất thưa. Sau chừng năm mươi ngày, phải bứng những bụi lúa ấy lên, lại dọn sạch cỏ ruộng, rẽ tách những bụi lúa ấy ra, cấy lại lần hai dày chặt hơn, có như vậy bông lúa mới dài, hạt thon mảnh và dẻo thơm khác thường.
Để bứng lúa cấy lại, người ta dùng con dao mũi sắc nhọn, nhưng to lớn, lưỡi dao dài chừng năm tấc, ngang hai tấc, cán dao ngắn, mập bự, đầu cán cong theo một thế tay nắm vững chắc. Nếu không dùng vào việc bứng lúa, con dao ấy lợi hại như một thanh gươm. Ông cậu tôi treo lên xà nhà chính con dao này.
Cái lời nguyền của ông cậu tôi hóa ra là không tránh được. Khi nó xảy ra thì ông đã mất lâu rồi, nên không ai khác, nó được thực hiện bởi con trai ông. Đó là vào năm 1956. Mười một năm sau khi đã mất hết đất đai về tay dân cày trong Cách mạng tháng Tám, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm công khai không thi hành hiệp định Genève, men theo cái làn sóng tận diệt cơ sở cách mạng miền Nam, điền chủ Xã Phuông trở lại Lung Cấm, dựa vào làng lính, cưỡng bức dân đòi lại tô tức.
Và, cậu Ba tôi đã ra tay. Cái vật ông dùng để giết địa chủ Xã Phuông, cũng là chồng của cô ruột ông, không phải là cây dao bứng lúa treo trên xà nhà mà là một cây xom hồng lớn cỡ ngón chân cái, dài hai thước. Ông đã dùng hết sức bình sinh đâm thẳng cây xom xuyên qua bức vách ván nhà, nơi gường ngủ của Xã Phuông, cây xom qua ván lại xuyên thấu con người này từ lưng qua ngực, còn ló đoạn xom dài nửa thước. Bốn thanh niên lực lưỡng không lôi nổi cây xom ra khỏi người ông ta, phải phá vách lập thế cho trâu kéo, mới lôi ra được.
Phải nói cảnh sống bé mọn của bà dì Năm tôi với Xã Phuông cũng không ra gì, nhưng dù sao thì cuộc đời bà cũng đã gắn với ông ta bởi hai đứa con, một trai, một gái. Những chuyện tương tàn như thế này trong dòng họ, đối với những người con gái, chỉ là nỗi đau khổ cam chịu; nhưng đối với những đứa con trai, đó là điều không thể.
Sau khi Xã Phuông bị giết, lập tức người con trai của bà dì Năm tôi trở thành cảnh sát trưởng của xã, của chánh quyền họ Ngô. Cái người này tôi kêu bằng cậu, cậu Bé. Từ đó đến ngày xảy ra đồng khởi 1960, trong họ ngoại của tôi có hai người theo kháng chiến bị giết và ba người bị bắt đày đi tận Côn Đảo, không trực tiếp thì gián tiếp, đều có bàn tay của cậu Bé.
Sau ngày đồng khởi, cậu Bé là một trong hai người bị cách mạng xử tử ngay tại sân trường học, chỗ có chiếc cầu xi măng sụp đổ ngày nay. Cũng từ đó, bà dì Năm tuyệt giao với cậu Ba tôi. Ngày bà mất, trong lời trối trăng có câu ngăn cản không cho cậu Ba tôi tới dự đám tang. Cậu không nghe, cương quyết tới.
Cậu nói, có lần vợ lớn Xã Phuông hành hạ bà bằng cách trói vào gốc cây, dùng sa quạt giê lúa thổi lúa lép và bụi rơm lấp lên người bà giữa trưa nắng chang chang. Trong lúc các thợ giê lúa nghỉ đi uống nước, cậu tôi đã lén mở dây cho bà. Nếu nhớ lại việc này, bà sẽ tha thứ cho cậu. Nhưng hóa ra bà không tha thứ. Khi cậu tôi vừa sụp lạy trước quan tài của bà, thì quan tài bứt đinh, nước ào xối xuống, mùi hôi thúi làm đám tang náo loạn như ong bể ổ.
Sau cái cú xuyên xom qua vách ván nhà Xã Phuông, cậu Ba tôi vào rừng theo kháng chiến. Nhưng ông không có chí hướng trở thành nhà cách mạng. Đồng khởi năm 1960 đã biến gần như toàn bộ vùng nông thôn Cà Mau thành vùng giải phóng, trong đó có quê tôi. Thế là không bao lâu sau, cậu Ba tôi thôi công tác, trở về nhà làm một nông dân, dù lúc đó ông đã có chân trong huyện ủy, làm chánh trị viên phó huyện đội.
Nhiều người ngạc nhiên, tưởng ông bất mãn tổ chức điều gì, thật ra vì ông thích làm nông dân, thích nuôi trâu và cày cấy trên mảnh ruộng của mình, thế thôi. Gần chục năm sau có lẽ là quãng đẹp nhứt, hạnh phúc nhứt trong cuộc đời ông. Số lúa ông thu hoạch hằng năm tính hơn ngàn giạ (hơn 15 tấn). Trâu cái đẻ trâu con, khiến ông có trâu bầy.
Và mợ tôi liên tục sanh cho ông bốn người con trai tiếp sau hai bà chị gái. Nhưng rồi chỉ trong chốc lát, gần như toàn bộ sự nghiệp của ông tan thành mây khói. Đó là vào một ngày đầu mùa mưa năm 1969. Sau cuộc tổng tấn công Tết Mâu Thân, quân đội Sài Gòn tập trung phản kích quyết liệt tái chiếm đóng các vùng giải phóng. Chỉ trong một ngày, nhà ông và cái bồ lúa hơn ngàn giạ cháy rụi trong bom na-pan. Bầy trâu bị trực thăng dí bắn trên đồng, chỉ còn sót hai con chạy lạc.
Đau đớn hơn, một trái pháo từ hạm đội đã bắn sập căn hầm của vợ con ông, giết chết đứa con gái thứ, ba đứa con trai bị thương rất nặng, lúc ấy ở ngoài đồng ông cũng vừa chết hụt với bầy trâu. Dùng cây dao bứng lúa của ba ông để lại, ông đào trong vườn nhà lỗ huyệt chôn đứa con gái vừa chết. Sau đó, ông cho vợ chở những đứa con bị thương ra chợ chữa trị, rồi tạm cư luôn ngoài ấp chiến lược (vùng do chánh quyền Sài Gòn kiểm soát), hai con trâu sống sót ông cũng cho di cư luôn ra đó để ông rảnh tay làm cuộc đánh trả.
Ông tập họp đàn ông, trai tráng trong xóm lập ra đội du kích, dùng mọi cách lấy súng, trái nổ của đối phương tự trang bị cho đội du kích. Ông mày mò tháo gỡ, cưa đục để biến mọi thứ trái nổ từ đầu đạn phóng lựu M79 đến quả pháo lép 155 ly thành trái gài. Ông biến toàn bộ vùng kinh Trâm Bầu cùng những xóm làng lân cận thành một bãi tử địa to lớn, đối phương không sao đặt chân vô được.
|
Từ sơ sinh, cậu Ba tôi từng uống nước từ chiếc lu này. Ảnh: Nguyễn Trọng Tín
|
Rồi thì quân đội bên kia cũng đóng được đồn Giáp Nước, đặt ở đây một trận địa pháo. Nhưng suốt hơn ba năm chiếm đóng, vì sự quấy nhiễu của đội du kích của ông, đồn Giáp Nước là cái đồn duy nhất trong vùng không gom được một người dân nào vô sống quanh đồn để làm rào che chắn. Cái đồn này từ súng đạn cho đến thực phẩm, nước ngọt đều phải tiếp tế bằng trực thăng cần cẩu.
Mùa hè năm 1972, khi đồn Giáp Nước và bốn đồn khác trong xã rút chạy, đội du kích của ông đã lên đến hơn năm chục tay súng. Thế là đội du kích của ông hết giặc để đánh. Huyện điều động đơn vị chi viện giải phóng các xã lân cận. Nhưng ông có vẻ không còn hứng thú trong chuyện đánh giặc. Nhân chuyện huyện rút một nửa đơn vị và trang bị của đội du kích lên bổ sung cho huyện, ông tập họp đội du kích, kêu mọi người chất hết súng ống, đạn dược xuống xuồng, đầy khẳm hai xuồng be mười, đem giao cho huyện đội. Ông tuyên bố, anh em nào còn thích đánh nhau thì về huyện, còn ông thì nghỉ. Ông đem vợ con và trâu về đất nhà tiếp tục cày ruộng.
Năm 1980, quê tôi bước vào cuộc cải tạo nông nghiệp, xây dựng các tập đoàn sản xuất. Tôi về thăm quê đúng cái đêm mà hôm sau cậu Ba tôi phải giao trâu cho tập đoàn. Nhiều nhà cậy cớ trâu què, trâu bịnh để mổ thịt từ trước đó.
Tôi còn nhớ, ngày đó là vào tháng hai âm lịch, tháng nóng bức nhứt của mùa hạn xứ này. Đồng ruộng nứt nẻ, ao vườn khô cạn. Đêm đó, ông thức trắng. Nửa đêm, ông ôm một ôm rơm khô nhúng vào lu nước mưa duy nhứt trong nhà cho trâu ăn và sáng ra ông giao trâu. Ông chia tay với trâu, nhưng không chia tay được với người nông dân trong con người mình.
Chỉ mấy hôm sau, ông đi hỏi vợ cho hai đứa con trai, dù chúng chỉ mới mười tám, hai mươi tuổi. Ông cưới vợ cho hai đứa con này là để số nhân khẩu trong nhà tương ứng với số ruộng của ông khi được tập đoàn bình quân trên đầu người. Ông không thể chịu đựng được khi nhìn thấy cảnh người khác cày cấy qua loa trên đất của mình.
Khi làn gió đổi mới thổi đến, ông được giao lại đất, trả lại trâu. Khi ấy, đôi trâu đã già. Các con ông thuyết phục ông cho chúng bán đôi trâu đi để mua máy cày. Ông không có lý gì để cản các con. Trước hôm bán trâu, ông bỏ nhà đi chơi mấy ngày vì không đủ sức chứng kiến cuộc chia tay lần thứ hai với trâu.
Những con trâu được người mua dắt ra đầu kinh Trâm Bầu cột lại, chờ mua gom đủ số mới cho ghe chở về lò mổ. Đêm đó, con trâu Cui của ông, con trâu từng một thời vô địch chém lộn vào mùa sa mưa, làm bá chủ cánh đồng rộng đến mấy xóm, đã bứt dây mũi về dậm chân trước cửa nhà. Người con trai lớn của ông phải dụ xỏ lại dây mũi, dẫn con Cui giao lại cho đám lái trâu.
Khi trở về, nghe được chuyện, ông lập tức cắt đất cho người con này ra riêng. Cần nói rõ điểm này: theo tập quán trong vùng, khi những đứa con trai cưới vợ, cha mẹ sẽ cho chúng ra riêng với một mảnh ruộng, một ngôi nhà, ít vật dụng và lúa ăn. Tùy theo cha mẹ giàu, nghèo mà ngôi nhà, mảnh ruộng, vật dụng lớn nhỏ, nhiều ít.
Nhưng cậu tôi từ trước không theo tập quán này. Nhà ông là một đại gia đình. Khi con cái có chồng có vợ, ông cũng cất cho mỗi đứa một nếp nhà khang trang gần bên nhà ông. Còn mọi việc làm ăn là do ông chỉ huy. Đời sống các “nhà con” được bảo đảm và lúa thóc tiền bạc được ông phân phối công bằng theo lao động mà họ đóng góp. Con cái họ, các cháu ông, ông lo như nhau, từ ăn mặc, học hành, dù cha mẹ chúng có đóng góp nhiều hay ít. Chuyện con trâu Cui bứt mũi trở về đã làm ông nổi giận mà phá đi nếp sống đầm ấm ấy, mặc cho vợ con ông khóc hết nước mắt, cũng không lay chuyển được quyết định của ông.
Cách nay mười năm, người ta cho đào con kinh Trâm Bầu thành con kinh Xáng Mới, chia đất nầy thành hai vùng qui hoạch khác nhau. Bên nầy kinh là vùng trồng lúa, bên kia kinh là vùng nuôi tôm. Đất cậu Ba tôi nằm bên vùng trồng lúa. Khác hơn hết thảy mọi người, ông không buồn, không bất bình mà lại mừng. Sau vài vụ đầu trúng tôm, bên kia kinh đã lác đác nhà tường mọc lên, ăng-ten máy thu hình giương lên trời, tiếng nhạc máy cát-xét xập xình thâu đêm.
Thế là người bên nầy kinh không còn kiên nhẫn; họ ngầm thông đồng với nhau, trong một đêm đồng loạt khui nước mặn lên đồng để được nuôi tôm. Cậu tôi huy động tất cả sức lực con cái, củng cố bờ bao để giữ ngọt. Con cái ông im lặng làm theo. Từ đó, trong nhà ông là một bầu không khí im lặng. Bầu không khí im lặng quanh ông ngày một bao trùm khi ông giao tiếp với hàng xóm láng giềng.
Ông vẫn là người được xóm làng trọng nể. Trong những đám tiệc, ông vẫn là người đầu tiên được mời vào mâm trên, nhưng ông rút lui bởi vì ông cảm thấy trong đám đông đó không có câu chuyện của mình. Biết tôi là người trong con cháu được ông thương, có lần các anh chị con cậu Ba tôi nhờ tôi nói với ông để họ được khui nước mặn vào nuôi tôm như mọi người, vì cái sự nhiễ̉m mặn là không thể tránh được, lúa mỗ̉i ngày một thất. Một lần tôi về, sau một cuộc rượu, thấy ông vui, tôi gợi ý:
- Coi bộ thấy nuôi tôm khá hơn làm ruộng à cậu …
- Khá thì khá trước mắt, biết có lâu dài hay không? Mà buồn lắm! Mày có thấy, dừa trong ruộng tôm không còn trái khô nào lớn đủ đút cái bàn nạo vô nạo được? Tôm đâu phải là vàng. Một ngày nào đó thằng nước ngoài nó nói thôi, không ăn tôm nữa, thì đám cháu nội, cháu ngoại của tao phải đi làm cái việc mà ông cậu mày (tức ba ông) đã làm ngày mới tới đây khẩn hoang, là be ví, bao bờ, giữ ngọt mà lập lại vườn, làm lại ruộng. Bốn đời người đi qua chỉ để lập lại cái vòng lẩn quẩn. Tiền nhân mà như vậy, con cháu nó coi như cứt.
Tôi đành im, không dám nói gì thêm. Trong thâm tâm tôi cũng không tán đồng với ông, nhưng cũng như ông, tôi cũng có một nỗi buồn khó hiểu.
Cuộc giằng co mặn – ngọt, đắp rồi khui, khui rồi đắp cũng tới hồi kết thúc khi chánh quyền tuyên bố vùng đất bên nầy kinh được phép chuyển dịch cơ cấu, trở thành vùng chuyên canh nuôi tôm.
Vườn dừa rộng lớn nhà cậu Ba tôi giờ cũng không còn trái dừa khô nào đút được cái bàn nạo vô nạo. Chiếc máy cày do bán trâu mà có, giờ chỉ còn là đống sắt vụn nằm ở góc sân. Chỉ duy nhứt một cái ao được ông ra sức giữ ngọt như là giữ một kỷ vật của nỗi hoài niệm. Tôi về cả buổi, ông cứ lừng xừng, hết ra lại vô, bứt rứt không yên, nhưng không thấy ông quyết định gì. Tôi rủ:
- Nhậu cho vui, cậu Ba!
- Tôm tép thì có, mà không còn trồng được đọt rau, tao bỏ nhậu rồi. Có mầy về, thôi thì uống.
Cuộc nhậu chẳng còn gì hứng thú, một lúc rồi giải tán. Đêm, vẫn như những lần về trước, ông nhóm mẻ ung, giăng hai chiếc võng kề nhau, ông một võng, tôi một võng. Những lần như vầy ông thường kể cho tôi nghe chuyện này, chuyện nọ của dòng họ, rồi biểu tôi nhớ mà ghi lại để sau này con cháu còn biết. Nhưng nằm đã lâu, chẳng nghe ông nói gì, chỉ miên man đốt thuốc. Tôi nhìn lên trần, thấy trên xà nhà có treo một vật nặng trĩu. Tôi biết đó là con dao bứng lúa. Tôi chỉ vật treo, rồi nói:
- Để con ghi cái chi tiết nầy nghen cậu Ba?
Ông nói gọn lỏn:
- Đừng ghi.
Khói thuốc bên võng ông lại tỏa lên cuồn cuộn. Bờ kinh, tiếng ọc ạch vẫn không ngớt dội mạnh vào đất. Tôi nghe, mà cơ hồ tiếng chân trâu đang nện trầm trầm trên mặt đường rơm.
Nguyễn Trọng Tín