Từ Sông Tranh 2 bàn về khoảng trống rủi ro
SGTT.VN - Những cơn dư chấn liên tục sau trận động đất thời gian qua tại đập thuỷ điện Sông Tranh 2 không những khiến cư dân huyện Bắc Trà My của tỉnh Quảng Nam và vùng lân cận phập phồng lo lắng, mà còn gióng lên hồi chuông báo động về cách tiếp cận các vấn đề rủi ro có thể gặp phải trong xây dựng nền công nghiệp ở ta.
|
Thủy điện Sông Tranh 2. Ảnh: Thanh Trà
|
Ông bà ta nói “mất bò mới lo làm chuồng”, nhằm chỉ những việc cần thiết nhưng làm trễ hay làm vào lúc không còn thích hợp. Khi một tai nạn xảy ra, gây cho dư luận thương tâm và căm phẫn, thì câu hỏi về người chịu trách nhiệm lại được đặt ra. Đa phần đòi hỏi các cơ quan chức năng phải quản lý gắt gao hơn, phần còn lại kêu gọi xử lý nghiêm minh những người gây ra tai nạn. Động thái này cần thiết và quan trọng, nhưng chỉ là hành động hậu kỳ. Quan trọng hơn cả là làm sao xây dựng được một “văn hóa an ninh”, trong đó ngăn ngừa thay vì giải quyết là nguyên tắc chủ đạo.
Xét về mặt cá nhân, nhu cầu an ninh của mỗi người có thể được giải thích thông qua mô hình về thứ bậc nhu cầu do nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra năm 1946. Xét tổng thể, Maslow khái quát nhu cầu con người tăng dần từ thấp đến cao theo năm thứ bậc chính: (1) Nhu cầu sinh tồn tối thiểu (ăn uống, sinh hoạt, quần áo...); (2) Nhu cầu an ninh (an toàn về mặt sức khoẻ, nhà cửa, việc làm, nguồn thu nhập...); (3) Nhu cầu xã hội (kết giao bạn bè, tình yêu, giao tiếp đồng nghiệp...); (4) Nhu cầu được công nhận (được tin tưởng, trân trọng từ bạn bè, người thân, được đánh giá đúng về những thành tích đóng góp cho cộng đồng) và cuối cùng là (5) Nhu cầu lý tưởng (thể hiện mục tiêu sống, khát vọng theo đuổi của bản thân). Theo phân chia này thì không một thành tố nào là nguy hiểm hay quan trọng hơn, cái quyết định ở đây là “trình độ phát triển” và “cảm giác rủi ro” mà cộng đồng đang theo đuổi. Kinh nghiệm cho thấy những đất nước có nền công nghiệp mạnh cần ít nhất một khoảng thời gian dài để có thể hình thành được nền văn hoá an toàn công nghiệp, tăng độ nhạy cảm với các vấn đề ảnh hưởng đến sự an toàn cho tập thể lẫn cá nhân. Trong đó, sự diễn tập từ thế hệ này sang thế hệ khác là vô cùng cần thiết.
Diễn tập là câu hỏi của việc nhận định chính xác và báo động những cảm giác rủi ro. Dù chưa phải là một nước hoàn toàn công nghiệp hoá, nhưng mức độ gắn liền với các rủi ro công nghiệp của nước ta đã tăng lên rất nhiều trong thời gian qua, đòi hỏi ý thức về sản xuất công nghiệp hay tối thiểu ý thức về việc sinh hoạt trong một xã hội công nghiệp phải được xem xét và đảm bảo nghiêm túc. Phân tích các trường hợp tai nạn công nghiệp trên thế giới (đặc biệt là vụ hạt nhân ở Nhật Bản năm 2011) cho thấy khủng hoảng thiên tai dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội liền sau đó, một phần là hệ quả của chính sách quá bảo mật hay không trung thực về thông tin. Khi người người hoang mang, nhà nhà hoảng sợ, thì cái duy nhất để họ dựa vào là một nguồn thông tin khả tín xuất phát từ một tiếng nói hoặc một cơ quan có thẩm quyền. Thông tin trong thời gian khủng hoảng là chìa khoá vàng khiến cho các tác động từ thiên nhiên, hay do sự cố kỹ thuật không bùng nổ thành khủng hoảng xã hội.
|
Thiếu thông tin khiến cho các ảnh hưởng của vấn đề bị khuếch đại. Trình bày các vấn đề không đầy đủ, giới hạn trong một góc nhìn khiến thiếu vắng đi một bức tranh toàn thể. Khoảng trống chết người làm cho cảm giác đánh giá rủi ro bị bỏ quên chính là không có một không gian cho các tiếng nói trái chiều.
|
Thiếu thông tin khiến cho các ảnh hưởng của vấn đề bị khuếch đại. Trình bày các vấn đề không đầy đủ, giới hạn trong một góc nhìn khiến thiếu vắng đi một bức tranh toàn thể. Khoảng trống chết người làm cho cảm giác đánh giá rủi ro bị bỏ quên chính là không có một không gian cho các tiếng nói trái chiều. Điểm quan trọng ở đây là ranh giới của kiến thức và khả năng để lập kế hoạch chủ động đối phó. Các tranh cãi hay phản biện về việc thiết lập Sông Tranh 2 tại một khu vực địa chất có hoạt động kiến tạo mạnh lại tiếp giáp một họng núi lửa cổ, nhận định về các di chấn gần đây giữa hai giả thuyết động đất kiến tạo và động đất kích thích, hay lập luận vấn đề chính từ kết cấu xây dựng của thân đập, rõ ràng là ví dụ điển hình cho thấy một độ chênh nhất định trong tính toán của cơ quan có thẩm quyền quyết định dự án mà cụ thể là tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và bộ Công thương cùng các chuyên gia. Khó có thể biết đúng sai như thế nào khi công luận gần như thiếu hẳn một bức tranh tổng thể mô hình hoá toàn bộ vấn đề xây dựng, thông số kỹ thuật và các tình huống nếu đập gặp vấn đề địa chất, hay nguồn nước. Khó có thể đánh giá mức độ chính xác thế nào khi gần như không thấy bóng dáng một cơ quan thẩm định mang tính độc lập bao gồm những nhà khoa học có kinh nghiệm liên quan, việc mà đến lần động đất thứ ba mới được tiến hành. Và cũng khó có thể biết được Sông Tranh 2 và người dân tại vùng này sẽ ra sao, đi về đâu khi những kịch bản giả thiết bị vỡ đập để đối phó với khủng hoảng hoàn toàn không được phác thảo, một việc gần như thuộc vào chuẩn mực chung của các công trình công nghiệp lớn và quan trọng.
Đã có một đoàn chuyên gia của viện Vật lý địa cầu và viện Địa chất có mặt tại chỗ thực hiện công tác khảo sát thực địa. Trả lời câu hỏi của báo chí về sự kỳ vọng ở các nhà khoa học và các cơ quan chuyên môn trong khảo sát lần này, phó chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, ông Trần Anh Tuấn nhấn mạnh rằng: “Mong mỏi nhất của chính quyền huyện và người dân là các nhà khoa học khảo sát động đất cũng như kiểm tra công trình đập có kết luận thật khoa học và chính xác. Làm chậm cũng được nhưng phải chắc, đoán đúng bệnh để người dân có hướng xử lý“. Một nhận định khách quan và trung thực, cùng với các kịch bản có thể diễn ra trong trường hợp xấu nhất tại đập Sông Tranh 2 chắc chắn không phải chỉ là ước vọng của riêng người dân tại Bắc Trà My và ông phó chủ tịch.
Trương Minh